Bị một quả bí nuốt chửng, bị lũ lụt hay hỏa hoạn nhấn chìm, bị lạnh cóng trong kỷ băng hà mới, loài người đã nhìn Ngày tận thế với sự sợ hãi và cả niềm đam mê kể từ buổi bình minh của nhân loại.

 

Chu kỳ thiên nhiên – ngày và đêm, bốn mùa – đã từ lâu nuôi dưỡng nỗi sợ hãi của con người về việc sẽ bị rơi vào bóng tối vĩnh cửu hay mùa đông vô tận.

 

“Trước các tôn giáo một thần, các nền văn minh cổ đại sống trong nỗi sợ hãi rằng chu kỳ này một ngày nào đó sẽ ngừng lại,” nhà sử học Benard Sergent, tác giả của một cuốn sách gần đây về 13 huyền thoại khải huyền, giải thích.

 

Người Aztec tin rằng có một dịp nào đó – xảy ra 52 năm một lần – ánh sáng mặt trời sẽ không còn nữa, bởi vậy họ đã hiến tế nhiều người để đảm bảo ánh nắng vẫn tiếp tục.

 

Nhưng khác với việc Ngày tận thế là kết thúc tất cả mọi thứ, trong lịch sử, một huyền thoại khác lại cho rằng đó là một cách để thiết lập lại thời gian, phân chia giữa tốt và xấu và bắt đầu lại từ đầu.

 

Theo nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ đại, từ này có nghĩa là “khải huyền.” Được lựa chọn từ giả thiết trong Kinh Thánh, sách khải huyền về Thánh John, đây là một trong nhiều tình huống khi thế giới kết thúc, được truyền bá nhiều trong thời kỳ đầu của Thiên Chúa.

 

Cuốn sách về sự khải huyền, quyển cuối cùng trong bộ Tân Ước, mô tả một chuỗi các sự kiện đại hồng thủy tiêu diệt một phần sự sống trên Trái Đất, mà đỉnh điểm là sự trở lại lần thứ hai của chúa Jesus.

 

Đạo Hồi cũng có những câu chuyện về sự hủy diệt hàng loạt – bởi bão cát, xâm lược hoặc lửa.

 

 


Đạo Hồi cũng có những câu chuyện về sự hủy diệt hàng loạt bởi bão cát (Nguồn: AFP)

 

 

Bệnh dịch, nạn đói và các cuộc chiến tranh tàn bạo  khiến châu Âu trong thời kỳ Trung cổ dường như đang tiến đến sự diệt vong – dẫn đến một thời kỳ hưng thịnh của những lời tiên tri rằng thế giới sẽ kết thúc vào năm 1000 sau công nguyên, như  những lời  tiên đoán về ngày Tận thế một thiên niên kỷ tới.

 

Vào thời kỳ đầu Phục hưng, các tín đồ Anabaptist (giáo phái rửa tội lại) đã bị thuyết phục rằng ngày kết thúc của thế giới đã gần kề, và điều quan trọng phải làm là “rửa tội lại” con người trước khi điều đó diễn ra.

 

“Đó là một phần của sự cấu trúc lại loài người” 

 

“Điều thường đe dọa nhất là bị các vị thần hay thiên nhiên gọi đến, về việc bị trừng phạt do đã không tuân theo những yêu cầu từ những người cấp cao,” Jean-Noel Lafargue, tác giả về một nghiên cứu về huyền thoại ngày tận thế trong lịch sử, cho biết.

 

“Ngày nay chúng ta không còn cần đến các vị thần để khiến chúng ta run sợ. Các thảm họa nhân tạo đã đủ rồi. Đó là sự thay đổi trong thế kỷ 20.”

 

Trong hàng ngàn năm nước được lựa chọn là vũ khí khải huyền.

 

Đối với Do thái-Kito giáo, lũ lụt gợi đến câu chuyện về chiếc thuyền Noah trong kinh thánh, nhưng mô tuýp về một trận đại hồng thủy do thần thánh giận dữ nhấn chìm loài người đã có từ lâu trong lịch sử.

 

Tại vùng Lưỡng Hà, huyền thoại về trận lụt lớn đến từ thời Sumer, giữa thiên niên kỷ thứ tư và thứ ba trước công nguyên, được kể lại trong sử thi Gilgamesh, một trong những tác phẩm văn học sớm nhất còn tồn tại cho đến ngày nay.

 

Hy Lạp cổ đại và La Mã cũng chia sẻ câu chuyện về trận lụt: Từ việc Ogyges – đặt tên theo một vị thần cai trị – bị nhấn chìm, cho đến Atlantic, lục địa huyền thoại bị biển cả vùi lấp, do nhà triết học Plato kể lại.

 

Tại buổi bình minh của nhân loại, một huyền thoại về nạn đại hồng thủy do một nhóm nhỏ những người đến từ vùng Cận Đông, người Do thái, đã trở thành huyền thoại nổi tiếng nhất.

 

 


Huyền thoại về nạn Đại hồng thủy, hay nước dâng là nổi tiếng hơn cả (Nguồn: AFP)

 

 

Theo sách Sáng thế, Chúa quyết định giải thoát Trái Đất khỏi con người và loài vật, và chỉ bảo cho Noal, một người “chính trực,” đóng một chiếc tàu để cứu bản thân và một phần của sự sống.

 

Lửa thường đến trước, hoặc sau trận lụt.

 

Hy Lạp, Scandinavia, Ấn Độ và các nền văn hóa gốc châu Mỹ đều nói về sự hủy diệt của nhân loại thời kỳ đầu do ngọn lửa.

 

Châu Phi và Ai Cập cổ đại không có huyền thoại về đại hồng thủy, nhưng những câu chuyện dân gian Tây Phi kể về một “quả bầu nuốt,” hay một quả bí, nuốt chửng toàn bộ các khu làng, nhà cửa, gia súc, thậm chí một phần nhân loại.

 

“Tôi nghĩ rằng đó là một phần của sự cấu trúc lại loài người, một phần của tâm lý con người tại một nơi nào đó, những người có niềm say mê đối với sự kết thúc của nhân loại,” Jocelyn Bell Burnell, giáo sư vật lý học thiên thể tại Oxford cho AFP biết.

 

Trong thời kỳ toàn cầu hóa của thế kỷ 21, ngày tận thế –  trên màn ảnh – thường xuất hiện như một đại dịch hay do biến đổi khí hậu, nhưng lời tiên đoán được nhiều người chú ý nhất là ngày 21/12, đánh dấu từ lịch của người Maya, là ngày tận thế của thế giới./.

 

 

 

 

 

 

 

 

[ Ngày tận thế thật là 23/12 chứ không phải 21/12 ]
[ Giáo hoàng kêu gọi không tin vào “Ngày tận thế” ]

[ Hollywood khiến mọi người hiểu sai về Ngày tận thế ]

[ Pháp cấm đi vào cổng thoát hiểm cho “ngày tận thế” ]

[ Người Maya bác bỏ huyền thoại ngày tận thế 21/12 ]

 

 

.

Advertisements
Đăng bởi: cuongdevn | 10.12.2012

Nước Mặn – Đô thị cổ

Ở Đàng Trong, sau hai đô thị cảng Hội An (Quảng Nam ) và Thanh Hà (Huế) là đô thị Nước Mặn Bình Định ra đời và đã được ghi trong Hồng Đức bản đồ với tên gọi “Nước Mặn hải môn”. Đây là trung tâm buôn bán xuất nhập khẩu không những cho phủ Quy Nhơn mà cả các dinh, phủ ở phía nam thời đó.

 

 images166456_LehoiDothi
Lễ hội Đô thị Nước Mặn. (Ảnh: Internet)

 

Nước Mặn được Alexandre de Rodes vẽ trên bản đồ vào thế kỷ 17 với tên phiên âm là Nehorman. Tên này xuất phát từ chữ Cristoforo Borri ghi lại trong tập ký sự của mình vào năm 1818. Borri chỉ đích danh là phố (ville). Ông viết “Vị tổng trấn liền ra lệnh xây dựng cho chúng tôi một cái nhà rất tiện nghi ở thành phố (ville) Nehorman

Tên Nước Mặn không được ghi trong bộ chính sử Việt Nam thời phong kiến nhưng lại được ghi trong các gia phả người Hoa sinh sống ở đây.

Đầu thế kỷ17, chúng ta có luồng buôn bán giữa Hội An và Nước Mặn với một số trung tâm thương mại quốc tế được thể hiện trên bản đồ vẽ vào năm 1608 có hai địa danh được thương nhân nước ngoài thường đến buôn bán là Hải Phố (Hội An) và Thị Nại (tức Nước Mặn) nằm trên đường hàng hải đến với Vuconva (tức bắc philippines).

P.B.Lafont cũng cho biết, trong các cảng ở Đàng Trong thì Binai (tức Thị Nại) thuyền buôn các nước Phương Tây, Malasia và một số nước khác đến buôn bán .

Tháng 7 năm 1818, Borri đến nước Mặn, dưới con mắt của Giáo sĩ này Nước Mặn là một thành phố. Ông viết “Chúng tôi lại leo lên lưng voi và lên đường với một đoàn tùy tùng đông đảo để đi đến thành phố Nước Mặn”. Ông cũng cho biết, đây là một thành phố khá rộng: dài 5 dặm, rộng 0,5 dặm. Đó là thời kỳ thịnh vượng của phố cảng Nước Mặn.

Vào giũa thế kỷ 18, Pierre Poivre đến Đàng Trong còn đánh giá rất cao về phố cảng Nước Mặn, ông viết: “Tại tỉnh Quy Nhơn có một thương cảng khác gọi là Nước Mặn, là một cảng tốt an toàn được thương nhân lui tới nhiều nhưng kém hơn Faifo lại không thuận tiện vì xa kinh thành mà các thuyền trưởng nhất thiết phải đến kinh thành nhiều lần và phải đi ròng rã 6 ngày đường”.

Nhưng vào những thế kỷ sau không thấy sử sách ghi chép về phố cảng Nước Mặn. Đại Nam nhất thống chí bản biên soạn thời Tự Đức không ghi chép về phố cảng Nước Mặn, cũng không có tên trong danh mục 63 chợ lớn nhỏ trong tỉnh Bình Định.

Nước Mặn vang bóng một thời nay chỉ còn là dấu tích, những tên cầu Ngói vẫn còn và chợ mang tên Nước Mặn, vẫn còn dấu tích đền Quan Thánh và đặc biệt là chùa Bà Thiên Hậu đã được khôi phục.

Trên thực địa, khuôn viên Nước Mặn từ bờ cầu Ngói đến bến Cây Da. Bến cảng từ cầu Ngói đến chùa Bà của con sông Âm Phủ. Khu phố được khoanh vùng dài trên 1 km rộng 500m, ngày xưa thuộc làng Lạc Hòa và Vinh An (trước đó là Minh Hương) sau nhập chung gọi là An Hòa.

Thế kỷ thứ 18 trở về trước, khi cửa Kẻ Thử còn tấp nập thuyền bè vào ra buôn bán, tàu thuyền qua đầm Thị Nại vào sông Côn đi qua các nhánh sông Âm Phủ, Cây Da rồi lên cầu Ngói để trao đổi hàng hóa với thương nhân ở phố Nước Mặn. Các Giáo sĩ Bozomi, Pina, Angustin đến đây truyền giáo(7.1618) cũng kể lại về xây dựng ngôi nhà thờ ở phố Nước Mặn.

Vào cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 mạch đứt gãy duyên hải Bình Định hoạt động, cửa Kẻ Thử bị bồi lấp thuyền không vào được để buôn bán, phù sa sông Côn cũng không thoát ra biển làm lắng tụ, các nhánh sông Cây Da, Âm Phủ bị cạn, nước mặn không lên đến chợ, thuyền không đến được cầu Ngói, phố Nước Mặn đi vào suy tàn và quên lãng.

Nước Mặn hôm nay đã được khôi phục, lễ hội nước đô thị Nước Mặn đã được tổ chức hàng năm, Chùa bà Thiên Hậu được liệt hạng vào danh mục di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Âm vang về một thời vang bóng của Nước Mặn vẫn còn với thời gian, nhân dân vẫn truyền tụng về những dòng họ đại phú xưa như họ Ngụy, Khưu, Lý, Khổng, Lâm, Huỳnh, Từ…, hoặc một ông Khách Bạc giàu có ở Nước Mặn xa xưa.

  • TS Đinh Bá Hòa
Đăng bởi: cuongdevn | 10.12.2012

HỒI XUÂN.

Nguyễn Quy
 ASL60X_17199
Em hồi xuân, anh rêm mình ê mẩy
U sáu mươi máy móc muốn rơ rồi
Từ từ thôi em ơi chi vội dẫy ?
Em hồi xuân, anh phải kịp hồi…dương !
 
Để chúng mình mãi là cặp uyên ương
Hai trái tim cùng hòa chung nhịp đập
Và cứ thế dẫu đời luôn bầm dập
Em hồi xuân, anh lật đật hồi…dương ?
 
Xuyên Mộc, tháng 10/2012
 
Đăng bởi: cuongdevn | 29.11.2012

Em và tôi.

LE DUC VU

SAO SANG SONG
Bỏ bầy con sáo sang sông
Em như dáng lụa chiều hong nắng vàng
Tôi nay lạc dấu địa đàng
Bến xưa trở lại , quá giang … muộn đò.
Đăng bởi: cuongdevn | 29.09.2012

BÌNH ĐỊNH – KHÔNG CHỈ LÀ “ĐẤT VÕ”…

Bình Định đã được định danh là “miền đất Võ”, bè bạn trong và ngoài nước biết đến vùng đất này nhiều hơn sau các Liên hoan Quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam được tổ chức ở đây. Không chỉ có thế, Bình Định còn là “đất học”. Nơi đây từng là trung tâm thi cử, là cái nôi đào tạo giáo dục cho khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên suốt từ thời phong kiến đến tận ngày nay.

Bình Định vốn là vùng đất có nền văn hóa lâu đời, có truyền thống hiếu học từ xưa, là nơi phát tích, xuất thân, nuôi dưỡng của nhiều danh nhân, nhà văn hóa xuất sắc. Dưới thời phong kiến, Bình Định là một trong những tỉnh xây dựng nhiều Văn chỉ. Sử quán triều Nguyễn chép: “Văn chỉ hàng huyện: Một ngôi ở thôn Hội An, huyện Bồng Sơn, một ngôi ở thôn Vạn Thiện, huyện Phù Mỹ và một ngôi ở thôn Trung Tín, huyện Tuy Phước, đều dựng từ giữa thời tự Đức”. Đến đầu thế kỷ XX, tất cả 7 phủ huyện của tỉnh Bình Định (Hoài Nhơn, Hoài Ân, Phù Mỹ, Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước, Bình Khê) đều có văn chỉ.

 
Ban giám khảo Trường thi Bình Định khoa Ất Dậu (1885).

Theo sách Đại Nam Nhất thống chí: Văn miếu Bình Định được xây dựng vào năm đầu niên hiệu Gia Long (1802) tại thôn Vĩnh Lại, huyện Phù Cát (ngày nay thuộc thôn Vĩnh Phú, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn). Văn Miếu Bình Định cũng là một trong những Văn Miếu được xây dựng sớm so với nhiều địa phương khác.

Năm Tự Đức thứ 3 (1850) có chỉ dụ thành lập Trường thi Hương Bình Định. Mặc dù ra đời muộn so với các trường thi như Thừa Thiên, Thăng Long, Nghệ An… nhưng đây là điểm thi duy nhất dành cho sĩ tử các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa. Về sau nhận thêm sĩ tử Bình Thuận và một vài nơi khác.

Trường thi Bình Định tồn tại 65 năm (1850-1915), có 22 khoa thi, chọn được 342 vị cử nhân. Riêng Bình Định chiếm đến 194 vị, còn lại 148 vị thuộc các tỉnh còn lại. Bình Định chiếm 12 thủ khoa, Quảng Ngãi 10 thủ khoa, Phú Yên và Khánh Hòa không có thủ khoa nào.

Những năm đầu thế kỷ XX, khu vực miền Trung chỉ có 3 trường công lập mang tên Quốc học. Đó là Quốc học Huế, Quốc học Vinh và Quốc học Quy Nhơn. Trường Quốc học Quy Nhơn được thành lập năm 1921. Đến năm 1924 đổi tên thành Collège de Qui Nhơn. Niên khóa 1926 – 1927, trường hoàn chỉnh cấp Cao đẳng Tiểu học, có đủ 10 lớp từ lớp năm (lớp một ngày nay) lên đến lớp đệ tứ (lớp 9 ngày nay) và là ngôi trường duy nhất ở khu vực ở khu vực Nam Trung Bộ chia 3 cấp học bằng tiếng Pháp (sơ học yếu lược, tiểu học, cao đẳng tiểu học).

Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), trường Quốc học Quy Nhơn chuyển sang một bước ngoặc mới, đổi tên là trường Nguyễn Huệ. Đến năm học 1950 – 1951, trường chia ra làm 2: Nguyễn Huệ Bắc (Bồng Sơn) và Nguyễn Huệ Nam (Nhơn Phong). Trường Quốc học Quy Nhơn (sau là trường Nguyễn Huệ) đã sản sinh ra nhiều thế hệ trí thức, yêu nước, họ đã có những đóng góp đáng kể trong lĩnh vực khoa học và 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ giành lại độc lập dân tộc, cũng như bảo vệ, xây dựng đất nước sau năm 1975.

 
Trường Sư phạm Quy Nhơn năm 1962.

Năm 1955, trường Trung học Cường Để được thành lập trên cơ sở của trường Collége de Qui Nhơn. Đây là ngôi trường Trung học công lập đầu tiên của tỉnh Bình Định dưới chế độ Sài Gòn và trở thành trường Trung học đệ nhị cấp lớn nhất tỉnh, mở đủ các ban: A,B,C (vạn vật, toán, văn). Từ năm 1955 – 1975, trường Cường Để Quy Nhơn có thể sánh vai với các trường: Trương Vĩnh Ký và Chu Văn An ở Sài Gòn, trường Quốc học Huế. Được dạy và được học ở trường Cường Để là niềm vinh dự của thầy và của trò ở Bình Định lúc bấy giờ. Bởi trường luôn luôn có nhiều học sinh giỏi, thi đậu tỷ lệ cao trong các kỳ thi Trung học và thi Tú tài. Tỷ lệ  trúng tuyển cả miền Nam lúc bấy giờ khoảng 15% – 20%, riêng học sinh trường Cường Để ít nhất đậu 50%, có năm lên đến 70% – 80%.

Một số học sinh tiêu biểu của trường Quốc học Quy Nhơn (Collège de Qui Nhon, Cường Để) như: Lê Văn Thiêm (Viện trưởng Viện toán học), Đặng Hữu (GS.VS Viện Hàn lâm Nga), Phan Phải (GS.Viện trưởng Viện di truyền học), GS. TS Bùi văn Ga, TS. Bùi Bá Bổng…

Về đào tạo giáo dục, năm 1962, trường Sư phạm Quy Nhơn được thành lập, thu nhận giáo sinh các tỉnh miền Trung từ Quảng Trị đến Phan Thiết và Tây Nguyên. Đến niên khóa 1972 – 1973, trường chỉ nhận giáo sinh 5 tỉnh gồm: Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Phú Bổn. Trường đào tạo giáo viên bổ nhiệm dạy tại các trường Tiểu học thuộc các tỉnh duyên hải miền Trung và Cao nguyên Trung phần, đồng thời mở các khóa tu nghiệp chuyên đề dành cho các giáo viên đã và đang dạy tại các trường trong khu vực trách nhiệm. Từ năm 1962 đến năm 1975, trường đã đào tạo 13 khóa với 6.500 giáo viên ngạch giáo học bổ túc và 600 giáo viên ngạch tiểu học.

Năm 1977, Trường Đại học sư phạm Quy Nhơn được thành lập, là 1 trong 3 trường Đại học Sư phạm đầu tiên ở Phía Nam (2 trường khác: ĐH Sư Phạm Huế, ĐH Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh). Cùng với sự phát triển của nền giáo dục nước nhà, trường đã mở rộng lĩnh vực, đa dạng hóa ngành nghề đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực cho khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Năm 2003, đổi tên thành Đại học Quy Nhơn. Là nơi đào tạo và cung cấp giáo viên phổ thông từ tiểu học đến trung học. Đồng thời, trường còn đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, cán bộ chuyên môn thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội – nhân văn, kinh tế – quản trị kinh doanh, kỹ thuật công nghệ trình độ Đại học và sau Đại học. Và là Trung tâm nghiên cứu ứng dụng triển khai tiến bộ khoa học công nghệ.

Năm 2003, nhà nước tổ chức cụm thi Đại học, Bình Định được chọn là cụm thi cho 6 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Gia Lai và Kon Tum cho đến ngày nay.

Có thể nói, từ bao đời nay Bình Định luôn luôn là “đất học”, là trung tâm thi cử và là cái nôi đào tạo, giáo dục cung cấp nguồn nhân lực tri thức cho khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên…

  • Nguyễn Thanh Quang
Đăng bởi: cuongdevn | 29.09.2012

Ảnh hiếm về tết Trung thu thời xưa

Đây là những hình ảnh ghi lại cảnh vui trung thu thời xưa… trong số những bộ sưu tập của Viện Viễn Đông Bác cổ của Pháp (École Francaise d’ Extrême – Orient)

Đám con trẻ hào hức với Tết trung thu thủa xưa
Đèn lồng, đèn cá chép, đèn kéo quân luôn làm những đứa trẻ thèm thuồng
Đèn hình con cua là ước ao của bọn trẻ cả tháng trời trước Tết trung thu
Đủ các món đồ chơi được bày bán ở những khu chợ xưa
Múa lân trung thu xưa
Một cửa hàng thực phẩm thời xưa, nay chỉ còn là dĩ vãng
Mâm cỗ trung thu xưa có đầy đủ các loại trái cây

Theo Giáo dục Việt Nam

.

Đăng bởi: cuongdevn | 07.09.2012

Khi người Việt ‘xấu xí’ ở nước ngoài

Trong mắt nhiều người nước ngoài, du khách Việt Nam ồn ào, ăn tham và thích xả rác bừa bãi.

Khách Việt ăn tham? Mới đây, một bức hình được cho là chụp tại một nhà hàng buffet ở Thái Lan đã khiến cộng đồng mạng nổi sóng và đặt ra những suy nghĩ về văn hóa ứng xử của một số du khách Việt Nam khi đi du lịch nước ngoài. Từ bức ảnh, không khó để nhận ra tác dụng của dòng chữ Việt được viết trên chiếc bảng là để “cảnh báo” những vị khách Việt: “Xin vui lòng ăn bao nhiêu lấy bấy nhiêu. Nếu ăn không hết sẽ phạt từ 200 bath (bạt) đến 500 bath. Xin cảm ơn!”.

 

Bức ảnh đã gây nên nhiều ý kiến trái chiều, tuy nhiên đại đa số đều cảm thấy xấu hổ khi người Việt bị “phân biệt đối xử” nơi đất khách như vậy. Mặc dù có nhiều ý kiến tỏ rõ sự tự ái khi nhà hàng Thái Lan kia chỉ cảnh báo người Việt, nhưng cũng có một sự thật là nhiều người khách Việt đã “gửi” lại những hình ảnh không đẹp trong mắt bạn bè quốc tế từ những chuyến du lịch xuất ngoại của mình. Trước đó, hồi tháng 7/2012, một đoạn clip ăn buffet như ăn cướp tại một nhà hàng ở TP.HCM đã gây sốc cho cộng đồng mạng. Người ta choáng bởi kiểu giành giật món ăn, những tiếng gào thét, la ó như tăng thêm sự “kinh khủng” cho bữa tiệc này. Thêm một lần nữa, văn hóa ăn uống của người Việt lại trở thành một đề tài đáng phải đem ra xem xét. Có lẽ, văn hóa buffet vẫn còn khá xa lạ với nhiều người Việt Nam vì tình trạng trên không những xảy ra thường xuyên ở trong nước mà ngay cả khi đi ra nước ngoài, tật xấu này vẫn không hề thay đổi. Anh Sơn, một nghiên cứu sinh đang theo học tại Singapore chia sẻ: “Mình ăn buffet tại một số nhà hàng bên này thì cũng thấy có biển ghi bằng tiếng Việt: “Lấy vừa đủ ăn”. Lúc đầu thì cũng không để ý, nhưng sau nhận ra không hề có biển các nước khác thì thấy rất xấu hổ”. Ồn ào, tò mò và thích xả rác Từ chuyện ăn buffet, có thể nhận thấy trong mắt bạn bè quốc tế, nhiều du khách Việt còn có không ít tật xấu khác như ồn ào, thích vứt rác bừa bãi, thậm chí cả ăn cắp vặt. Một trong những “ấn tượng” đầu tiên của người nước ngoài về người Việt, ngoài sự nhiệt tình, cởi mở thì “người Việt rất ồn ào”. Sự ồn ào thể hiện ngay ở văn hóa bấm còi inh ỏi trên đường hay nói chuyện “maximum” mọi lúc mọi nơi: trong thang máy, trên xe buýt, thậm chí giữa cuộc họp. Một thói quen xấu khác cũng phổ biến không kém và thường bị bắt gặp ở du khách Việt là thói quen xả rác bừa bãi. “Nếp nhà” này được nhiều người giữ nguyên khi du lịch nước ngoài. “Tôi chưa bao giờ chứng kiến hành vi nào đáng hổ thẹn như thế trong nhà hàng. Họ bốc đồ ăn bằng tay, không có bất cứ loại màn vệ sinh nào. Thật khó tin rằng người Việt có một nền văn hóa hàng ngàn năm. Vì Chúa hãy bắt đầu cư xử như những người trưởng thành lịch sự đi”. Mặc dù thùng rác công cộng không ít, thế nhưng dường như đã quen với kiểu “tiện đâu ném đấy” nên bất cứ chỗ nào cũng có thể bị du khách Việt biến thành “nơi chứa rác”. “Mình đi mãi mà không thấy chỗ nào để vứt nên mình để lại luôn. Mà mình để túi rác rất gọn gàng chứ có vứt tung ra đâu. Sẽ có công nhân vệ sinh dọn thội” – một du khách người Việt hồn nhiên nói. Một điều nữa đáng bàn là khách du lịch Việt Nam ra nước ngoài thường không quan tâm đến văn hóa nước bạn. Gọi đây là thói xấu thì hơi quá, nhưng nếu coi đó là “một sự lãng phí lớn” thì điều này cũng đáng để suy ngẫm. Thử nghĩ xem, bạn phải bỏ một khoản tiền lớn cho những chuyến tham quan ngoài biên giới. Vậy tại sao không nhân cơ hội này để vừa thăm thú cảnh đẹp, vừa học hỏi tinh hoa văn hóa của đất nước mà bạn đến thăm? Anh Giang, hướng dẫn viên của một công ty du lịch, chia sẻ: “Người nước ngoài, đặc biệt là khách châu Âu, họ sẽ tìm hiểu về văn hóa Việt Nam trước lúc sang đây. Khi được hướng dẫn viên thuyết trình về các địa danh lịch sử, họ đều chăm chú lắng nghe, có thể hỏi lại những điều chưa rõ. Thế nhưng, nhiều khách Việt lại khác. Trong khi hướng dẫn viên cố đem đến cho khách những thông tin bổ ích về lịch sử thì nhiều người lại bỏ ngoài tai, chỉ mải mê chụp ảnh”. Không thể đánh đồng tất cả người Việt Nam đều mang những “tật” trên, nhưng đó cũng là một bộ phận không nhỏ. Và trong mắt không ít người ngoại quốc, nhiều trường hợp khách du lịch Việt Nam đã trở thành “con sâu làm rầu nồi canh”. Xin mượn ý kiến một cư dân mạng thay cho lời kết: “Thay vì tìm cách biện hộ, mỗi chúng ta nên cần tự rút ra bài học cho bản thân trong việc hành xử, đặc biệt là ở xứ người”.

(Theo TTVN)

,,,

Đăng bởi: cuongdevn | 31.08.2012

Lễ Vu Lan và bức ảnh lay động trái tim

Không chỉ những bạn trẻ thiếu vắng mẹ, mà bất kỳ một người con nào khi nhìn hình ảnh cô bé cuộn tròn trong hình vẽ người mẹ bằng phấn đều nghẹn ngào.

 

Những năm gần đây, giới trẻ ngày càng quan tâm hơn tới lễ Vu lan. Nếu như Ngày của cha, Ngày của mẹ, Ngày quốc tế phụ nữ… vốn rất sôi nổi, rầm rộ thì Vu lan thiên về cõi tâm linh hơn.

Từ đầu tháng, có những bạn trẻ đã ăn chay, tới gần rằm, cùng với mẹ, hoặc một mình, giới trẻ lên chùa làm lễ. Chính vì thế, những ngày này, ở các ngôi chùa lớn nhỏ đều tấp nập người đến thắp hương. Thậm chí có chùa thu hút hàng ngàn người cùng tụng kinh, làm lễ Vu lan như chùa Phúc Khánh (Hà Nội), chùa Vĩnh Nghiêm, Thiện Mỹ, Hoằng Pháp (TP.HCM)…

Trong dòng chảy hướng về mùa báo hiếu đó, có những hình ảnh về tình mẫu tử, sự khát khao yêu thương được các bạn trẻ chia sẻ trên mạng. Và nổi bật trong đó là tấm hình cô bé nhỏ nằm cuộn tròn trong người mẹ. Nhưng điều xót xa ở đây là người mẹ thân yêu được vẽ bằng phấn.

Bức ảnh được truyền tải đi nhiều lần nên dường như đã không còn biết được tác giả. Nhưng hơn tất thảy, nó là sự đồng cảm sâu sắc đối với những người không còn mẹ, là sự đánh thức tình yêu, hành động đối với bất kỳ ai còn có mẹ trên đời.

(Theo Infonet)

Đăng bởi: cuongdevn | 10.08.2012

Vườn cũ

Cao Hửu Hùng

 

Mảnh sân mới và những chậu hoa cũ,

Nắng gieo nghiêng thoang thoảng hương xưa,

Chiếc lá vàng nằm nghe đời trôi nhẹ,

Con chim sẽ già ngơ ngẩn nổi niềm riêng,

Nhìn trời cao run rẩy cánh hoang đường,

Qua bao sông bao suối,

Qua bao núi bao đồi,

Mơ hồ quên bao điều đã nhớ,

Còn lại lời thương khe khẽ phập phồng,

Cúi đầu nghe gió ngậm mỏ ước ao,

Lặng ru giông bão chìm ảo ảnh,

Níu nhẹ xanh về tô biếc khoảng trời mơ,

Mầm non mầm non xanh rưng rức,

Nhẹ nhàng nhẹ nhàng hoa hé nụ ,

Thời gian lơ lững đi qua mảnh vườn

Khắc vào lòng âm ỉ bóng chiều xưa,

Cao hữu Hùng 2012

Đăng bởi: cuongdevn | 01.08.2012

Âm vang thơ ca… trên vùng đất Võ

Là một trong ba hoạt động văn hóa nghệ thuật do Hội Văn học nghệ thuật (VHNT) Bình Định tổ chức, đêm thơ Hàn Mặc Tử – Xuân Diệu (diễn ra tối 31.7 tại Nhà Văn hóa Lao động) đã góp phần làm phong phú hoạt động Liên hoan Quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam lần thứ IV tại Bình Định. Đêm thơ thực sự tạo ấn tượng đẹp về đời sống văn hóa của vùng đất Võ…

 

 
Ca sỹ Quý Hòa đang thể hiện “Mộ khúc”, thơ Xuân Diệu, Phạm Duy phổ nhạc.

 

Những lời đầu trong bài phát biểu khai mạc Đêm thơ của Chủ tịch Hội VHNT Bình Định Nguyễn An Pha đã khái quát vùng đất Bình Định không chỉ nổi tiếng với những anh tài võ thuật, mà còn là xứ sở văn chương nghệ thuật có bề dày qua thời gian: “Từ thế kỷ XVII, bậc kỳ tài Đào Duy Từ, thuở Bình Định ẩn thân cắt cỏ chăn trâu, đã vẩy lên ngọn bút tài hoa, tráng chí những “Ngọa long cương vãn”, “Tư dung vãn”…, khi có dịp là đĩnh đạc ấn phong hầu với tài kinh bang tế thế; vừa xây đắp lũy thành kiên cố chống giặc vừa viết binh thư “Hổ trướng khu cơ” lưu danh hậu thế…

Đến thế kỷ XX, cùng thành tựu của văn chương chữ quốc ngữ và Phong trào Thơ mới 1930-1945, Bình Định với nền tảng văn hóa truyền thống của mình, đã góp mặt vào thi đàn dân tộc nhóm “Bàn Thành tứ hữu”: Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên, làm nên một “Trường phái thơ Bình Định” sừng sững. Ấy là chưa kể “Ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu nổi đình nổi đám ở Hà Nội…”

Tại đêm thơ, qua chương trình giao lưu với 2 khách mời đặc biệt: PGS-TS văn học Hồ Thế Hà và nhà thơ Thanh Thảo, giúp công chúng yêu thơ hiểu thêm về thơ và đời của hai nhà thơ lớn Hàn Mặc Tử và Xuân Diệu.

PGS- TS Hồ Thế Hà, nhà phê bình lý luận văn học đã phân tích rõ hơn về mối tương quan giữa Hàn thi sĩ và quê hương Bình Định, nơi chứng kiến giai đoạn chói sáng nhất trong sự nghiệp văn chương của ông và cả những tháng ngày cuối đời trong bạo bệnh. Nhà thơ Thanh Thảo- người em, người bạn rất thân quý của nhà thơ Xuân Diệu chia sẻ với khán giả một vài cảm nhận về thơ Xuân Diệu vừa được rút ruột viết ra từ những cảm xúc nóng hổi cùng năng lực cảm nhận thơ tinh tế, sắc bén của ông.

 

 
PGS-TS Hồ Thế Hà (ngoài cùng bên trái) và nhà thơ Thanh Thảo (phải) giao lưu tại đêm thơ.

 

Trên cơ sở đúc kết từ đặc tính cái “trôi” và cái “bay” của thơ Xuân Diệu, nhà thơ Thanh Thảo gợi mở về cách định danh mới cho sự nghiệp thơ “ông hoàng thơ tình”: “Tôi nghĩ, với một sự nghiệp thơ lớn như sự nghiệp thơ Xuân Diệu, thì coi nó như một dòng sông có lẽ thích hợp hơn là ví nó như một cánh chim…  Đặc tính của một dòng sông lớn là trôi chảy và thu hút, bồi đắp và phá vỡ. Vì vậy hai bờ sông thường có bên bồi và bên lở. Tôi cảm giác, dòng sông thơ Xuân Diệu thường có những vực xoáy đột ngột, nhưng không nhằm dìm chết hay gây choáng cho ai, mà lại tạo nên sự cộng hưởng…”.

Xuyên suốt chương trình đêm thơ, khán giả như đắm mình trong không gian của thơ nhạc. Những bài thơ hay của Hàn Mặc Tử và Xuân Diệu được trình bày khá nhuần nhuyễn của các nghệ sĩ và những khúc ca say đắm lòng người được phổ nhạc từ những bài thơ của hai nhà thơ tài hoa.

Diễn ra trước thềm Liên hoan Quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam lần thứ IV, Đêm thơ Hàn Mặc Tử- Xuân Diệu đã góp một không gian lung linh cảm xúc, âm vang thơ ca, giúp người xem cảm nhận thêm về đất và người Bình Định.

  • S.L

Older Posts »

Chuyên mục